
Nhiều năm trước, tôi và một đứa bạn thân đón Tết trên máy bay. Chúng tôi bay từ Hà Nội sang Hồ Nam, đích đến là sân bay Hà Hoa Trương Gia Giới.
Chuyến bay cuối cùng của năm cũ không vắng vẻ, nhưng cũng không kín chỗ như ngày thường. Chẳng hiểu thế nào, bạn tôi lại lấy tai nghe ra, để hai đứa nghe chung một album nhạc xuân rất cũ, lưu sẵn trong điện thoại...
Cô ca sĩ nhỏ nhẹ nói: “Trong bầu không khí đầm ấm và êm dịu của mùa xuân mới khởi đầu, Quỳnh Giao xin gửi tới toàn thể quý thính giả niềm mơ ước thanh bình và thịnh vượng”, sau đó bắt đầu hát Xuân Và Tuổi Trẻ, một nhạc khúc của La Hối, do Thế Lữ viết lời.
"Ngày thắm tươi bên đời xuân mới, lòng đắm say bao nguồn vui sống. Xuân về với ngàn hoa tươi sáng, ta muốn hái muôn ngàn đóa hồng"”...
Lúc ấy, chính bởi xung quanh chẳng có bông hoa nào, chứ đừng nói ngàn đoá hồng, tôi mới thật hiểu cái ý rằng Tết chẳng phải là một hiện thực vật lý, chẳng phải là bánh chưng hay hoa đào, chẳng phải kẹo mứt Tết hay phong bao. Tết là một cảm thức.

Tết vẫn luôn là Tết
Vì Tết là một cảm thức, nên dù theo thời gian, Tết luôn đổi khác, khi thì bớt đi một vài thú vui cũ, khi lại thêm vào một vài thói quen mới – chẳng hạn ngày xưa đến Tết thì phải “Đào phù, du hoả, tuế thời ký / Dung diệp, trúc tiêu, phong tục thông” (Gỗ đào, lửa liễu ghi năm tháng / Nêu trúc, cành đa phong tục xưa) – nhưng bây giờ không cần “đào phù” (câu đối), chẳng cần nêu trúc, thì Tết vẫn cứ là Tết.
Vì Tết là một cảm thức, nên dù ở đâu, ở nơi người ta ăn Tết hay không ăn Tết, Tết vẫn là Tết. Thậm chí có khi ở nhà đón Tết thì ta sợ Tết, sợ dọn nhà, sợ nấu cỗ, sợ sắm sanh, sợ chen chúc ra đường, có khi còn thấy Tết phiền quá, rắc rối quá, nhưng khi đón giao thừa ở một nơi xa Tết, ta lại càng thấy nhớ Tết hơn nhiều.
Năm đó, tôi và bạn thực sự khép lại năm cũ bằng một chuyến lăn lóc trên xe khách, chạy từ sân bay tới một ngôi làng gần vùng núi Trương Gia Giới.
Sau hai ngày trời lăn lộn tàu xe, bước vào căn nhà gỗ của một gia đình người Miêu, ngửi thấy mùi lẩu thơm ngào ngạt đang đun trên bếp củi, chúng tôi như sống lại.
Và năm mới của chúng tôi bắt đầu bằng một bát nước canh cay xè ớt, uống bao nhiêu nước lọc cũng không trôi hết vị cay. Lúc đó, thú thực chỉ uớc được húp sột soạt một bát canh nấu từ nước xương gà thanh thanh của mẹ ở nhà.

Tết mãi là niềm vui
Nhưng tuổi trẻ thích rong chơi. Mấy năm sau đó, vẫn chưa “chừa”, năm nào tôi với đứa bạn thân cũng đón Tết bằng cách khởi hành. Kiểu gì kết thúc một chuyến đi xong cũng bụng bảo dạ “năm sau sẽ ăn Tết nhà”, nhưng rồi đến cuối tháng Chạp, hai đứa lại rục rịch lên kế hoạch đi chơi xa.
Trong đó có một lần, chúng tôi đón Tết ở vùng Nam Á. Chí ít ở Trung Quốc người ta cũng ăn Tết Nguyên đán như mình, còn thấy sắc đỏ ngày lễ hội giăng mắc khắp nơi, chứ ở Ấn Độ, làm gì có ai ăn Tết.
Đêm giao thừa ngồi trong quán cơm bình dân ăn cơm cà ri gà, thơm nồng mùi gừng nghệ, chúng tôi lại ước gì. Giá có bánh chưng. Giá có thịt gà luộc.
Phải rồi, được ăn thịt gà luộc bây giờ cũng thích. Cái món thịt gà luộc mà lúc nào cũng còn lại nguyên đĩa trong mỗi mâm cỗ Tết, cái món thịt gà luộc khiến mẹ tôi năm nào cũng thở ngắn than dài vì ế cỗ, cái món thịt gà luộc mà bọn trẻ con tuyệt chẳng ai chịu động đũa, ôi, giá có một miếng gà luộc chẳng tẩm ướp gì lúc này thì cũng thật thiên đường.
Những ngày như thế, nhớ Tết ở nhà, đến cả hạt hướng dương cũng không có mà cắn cho đỡ buồn miệng, tôi sẽ mở nhạc xuân trong lúc ngồi trên tàu xe, hoặc khi… đi tắm, rồi líu lo hát theo bằng chất giọng vịt đực.
“Ta trẻ vui, ta trẻ vui đời xuân thắm tươi. Vui sướng đi cho đời tươi sáng, vui sướng đi cho lòng thêm tươi. Ta hát ca đón mừng xuân mới, ta hát ca cho lòng thêm hăng hái”...
Mà cũng lạ, những chuyến đi khởi đầu năm mới của chúng tôi lúc nào cũng là ở những nơi đi lại khó khăn, chẳng được êm đềm, chẳng được nghỉ ngơi. Mỗi ngày đều phải đánh vật với xe cộ, giao thông, đường xá để thăm quan và du hý. Tuyệt nhiên chẳng được như những chuyến du xuân an nhiên của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Nhưng đâu cần an nhiên, cứ được chơi Tết, dù ở đâu, cũng là một niềm vui.

Xưa kia, Hồ Xuân Hương lên chơi xuân núi Khán, khi về có viết: “Êm ái chiều xuân tới Khán Đài, / Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai /… / Nào là cực lạc là đâu tá? / Cực lạc là đây, chín rõ mười”.
Núi Khán trước thời Hồ Xuân Hương là nơi vua Lê thường tới xem điểm binh, đến thời Hồ Xuân Hương lại trở thành chốn du ngoạn. Còn thời giờ đây, núi Khán không còn nữa, về sau đã bị người Pháp san đi, xây một loạt công trình, trong đó có Vườn Bách Thảo.
Vài năm trước, khi hơi chán chơi Tết xa, tôi ăn Tết nhà. Nhưng kể cả ở nhà thì năm mới cũng phải xuất hành đi đâu đó. Có hôm mùng một, tôi phi xe lên Vườn Bách Thảo chơi.
Sớm mùng Một, Vườn Bách Thảo vốn đã bình yên lại càng thêm yên bình. Dù hẳn nơi đây khác thời Hồ Xuân Hương rất nhiều, nhưng nhìn những tàng cây cổ thụ xanh ngắt, tôi vẫn cảm thấy cái “lâng lâng chẳng bợn chút trần ai”, cái “cực lạc là đây chín rõ mười” ở đó.

Hẳn là cũng như Tết vậy? Đã bao nhiêu vật đổi sao dời từ xưa đến nay, Tết mỗi năm mỗi khác. Có những thứ bị san bằng, có những thứ được xây lên. Mà chính ta cũng khác đi nhiều, cũng được san bằng và xây mới biết bao lần.
Nhưng điều quan trọng nhất – cảm thức về Tết – thì vẫn thế. Và cảm thức về Tết, có lúc nào không là “ta trẻ vui ta trẻ vui đời xuân thắm tươi”.